5% kể từ đầu tháng 5
Dẫn đầu khuynh hướng trên phải kể đến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) với 3 chương trình nới lỏng định lượng (QE) đã kéo dài hơn 5 năm sau khủng hoảng mà đến nay vẫn chưa thể bắt đầu quá trình rút dần cho đến hết (taper). Phải giảng giải thế nào về sự thất bại của Nhật Bản trong "thập kỉ mất mát". Tiền mặt luôn được cất trong nhà thay vì để trong account ngân hàng. Nhưng rõ ràng một chính sách như vậy không mang đến sự phục hồi kiên cố trong tăng trưởng.
Để nhường chỗ cho những mối quan hệ đa chiều hơn và sâu sắc hơn đối với phần còn lại của thế giới. Ưu đãi khu vực sản xuất. Kết hợp cùng yếu tố hành lang dùng yếu sẽ tạo nên hiệu ứng tăng đầu tư vào các tài sản phi sinh sản (như cổ phiếu.
Giảm phát sẽ không thành hình trong hiện thực của liên minh tiền tệ độc nhất trên thế giới. Có thể thấy.
5% kể từ đầu tháng 5. Thị trường bất động sản. Trước những buộc ràng về mặt thể chế và cấu trúc.
Và kinh tế Nhật Bản cũng trì trệ kéo dài cả thập kỉ. Keynes cho rằng nếu tỷ lệ lạm phát giảm quá mức. Keynes nhấn mạnh vai trò của chính sách tài khóa để kích nhà xí dùng.
Bằng cách giảm thuế cho doanh nghiệp. Tăng trưởng trong trung và dài hạn là điều khả thi hơn và vững bền hơn hẳn liệu pháp in tiền của Friedman. Nghĩa là chưa bằng một nửa tỷ lệ lạm phát mục tiêu 2% trong chính sách điều hành tiền tệ của ECB. Eurozone trước cơn bão giảm phát: Cần sự dung hòa giữa Keneys và Friedman 4 5 24 Eurozone trước cơn bão giảm phát: Cần sự dung hòa giữa Keneys và Friedman Tư tưởng của Keynes và Friedman không phải là hai đường thẳng đồng thời và Eurozone cần tìm ra điểm giao giữa hai đường thẳng ấy.
Eurozone có thể sẽ phải cần một giải pháp dung hòa của cả hai luồng tư tưởng trên.
Để nhường chỗ cho những mối quan hệ đa chiều hơn và sâu sắc hơn đối với phần còn lại của thế giới. Còn trong bối cảnh khó khăn ngày nay. Nhưng rõ ràng một chính sách như vậy không mang đến sự phục hồi chắc chắn trong tăng trưởng. Bất động sản) và tác động trái lại đối với máy móc sinh sản. Bởi thế. Tức thị chưa bằng một nửa tỷ lệ lạm phát mục tiêu 2% trong chính sách điều hành tiền tệ của ECB.
Hơn nữa nếu được thực hiện thành công. Chẳng hạn như "gói sáu" (six-pack) trong ngày mai có thể thắt các quốc gia không được có tỷ lệ thặng dư cán cân thương nghiệp vượt quá 3% GDP. Trong một nền kinh tế mở. Sản xuất sẽ khó tìm được đầu ra hơn. Tất biện pháp kích cầu tiêu dùng đều đứng trước nguy cơ dẫn đến sự xuất hiện hoặc trầm trọng thêm thâm hụt thương nghiệp.
Tư tưởng của Keynes hướng về nền kinh tế thực với chính sách kích cầu. Ông từng viết về giải pháp trên bằng một hình ảnh - giống như việc rải xuống nền kinh tế đang chìm trong giảm phát từ một phi cơ chở đầy tiền. Như vậy thì kế hoạch nhằm hồi phục tăng trưởng kinh tế sẽ lại vấp phải nhiều rào cản về mặt chính trị hơn là về kinh tế. Khiến cho người tiêu dùng không muốn gửi tiền vào nhà băng. Châu Âu.
Các phương tiện dẫn suất không hiệu quả có nguy cơ khiến tiền chảy vào khu vực phi sinh sản như thị trường chứng khoán. Hiện tượng này là một bộc lộ của sự thừa thanh khoản.
Hiểm hơn. Liều thuốc giải cho căn bệnh giảm phát theo Milton Friedman (1912-2006) là chính sách tiền tệ siêu nới lỏng.
Cũng không muốn ăn tiêu vì biết chắc món hàng mua hôm nay sẽ giảm giá vào mai sau. Mà một trong số đó là lĩnh vực xuất nhập cảng.
Các nước chịu thâm hụt thương mại và các nước có thặng dư lớn đều phải chịu sức ép. Dường như không có vùng trời chung. Mà tuốt tuột đều đang đối mặt với thách thức mới. Nhìn lại một thế giới đang toàn cầu hóa. Nguy cơ tiểm ẩn của tình trạng giảm phát.
Vì vậy. Trong khoảng thời kì đầu tiên
Đáng ra lạm phát phải tăng theo hiệu ứng lãi suất nhưng thực tại thì trái lại. Chủ nhân Nobel Kinh tế năm 2008 Paul Krugman cho rằng. Đối với những người theo thuyết cực đoan của Keynes và Friedman. ECB tiếp chuyện hạ tiếp 25 điểm phần trăm của lãi suất cơ bản vào ngày 7/11 vừa qua. Trong những bế tắc trợ thời.
Mặt khác. Thiên hướng nới lỏng tiền tệ đang thịnh hành trên khắp thế giới. Tuy nhiên. Do vậy. Tức thị cần gắn kết với tuốt tuột các phần còn lại. Như vậy thì kế hoạch nhằm hồi phục tăng trưởng kinh tế sẽ lại vấp phải nhiều rào cản về mặt chính trị hơn là về kinh tế. Giảm phát sẽ không thành hình trong hiện thực của liên minh tiền tệ độc nhất trên thế giới.
Để rồi đi tới thực hành chính sách lãi suất 0%. Không phủ nhận hiệu quả của nới lỏng tiền tệ quy mô lớn. Còn trong bối cảnh khó khăn hiện tại. Lý thuyết là vậy. Và bên cạnh một chiến lược dung hòa từ hai luồn tư tưởng của Keneys và Friedman. Tuy nhiên. Một chính sách kích thích kinh tế được thay thế cho dây lưng buộc bụng sẽ đặt rủi ro lớn cho các khoản nợ công tại các nước Eurozone.
Và sẽ hoàn lại khi tốc độ tăng trưởng của khu vực eurozone vượt qua một mức cố định và thu ngân sách chính phủ cũng tăng theo. Bẫy thanh khoản Khác với trướng phái trọng tiền tài Friedman.
Nhưng châu Âu hiện tại đang phải đối mặt với tình huống khó khăn hơn nhiều. Với các chính sách của các chính phủ khác trong khu vực Eurozone. Các nhà điều hành tại châu Âu nên bỏ qua những ý kiến kinh tế cực đoan của họ để miễn sao. Nhằm nâng cao năng suất.
Nhưng hành động trên giống một liều thuốc an thần hơn là liều thuốc giải thực thụ cho những bế tắc trước nguy cơ giảm phát đang đến gần.
Ông cho rằng nới lỏng tiền tệ sẽ giải quyết được vấn đề giảm phát. Nhà kinh tế học lừng danh người Mỹ này là đại diện theo trường phái trọng tiền. Tuy nhiên. Nhưng châu Âu hiện tại đang phải đối mặt với cảnh huống khó khăn hơn nhiều.
Nhà kinh tế học lừng danh người Mỹ này là đại diện theo môn phái trọng tiền. Ngoại trừ Bắc Triều Tiên. Theo Keynes. Hình ảnh người anh hùng "một mình một ngựa" càng trở nên xa vời. Keynes đề xuất cần phải kích chuồng chồ dùng. Hoặc của Nghị viện châu Âu hoặc các Bộ trưởng Tài chính các nhà nước thành viên.
Bởi thế. Thiên hướng nới lỏng tiền tệ đang thịnh hành trên khắp thế giới.
Kiểu đi "độc hành" gần như đã biến mất. Liều thuốc giải cho căn bệnh giảm phát theo Milton Friedman (1912-2006) là chính sách tiền tệ siêu nới lỏng.
Châu Âu. Điều còn tối dạ hơn sẽ đến sau đó chính là bong bóng tài sản. Có những người theo thuyết cực đoan nhưng cũng có người theo thuyết ôn hòa.
Gánh nặng nợ công đã lan từ Hy Lạp. Đương nhiên. Phải giải thích thế nào về sự thất bại của Nhật Bản trong "thập kỉ mất mát". Trước nhất. Qua đó làm tăng sinh sản ứng. Chính sách kích thích như trên có thể sẽ vấp phải một số rằng buộc bên ngoài. Nói đơn giản. Trong những bế tắc tạm
Ông từng viết về giải pháp trên bằng một hình ảnh - giống như việc rải xuống nền kinh tế đang chìm trong giảm phát từ một máy bay chở đầy tiền.
Tư tưởng ban sơ của Keynes về giảm phát đến từ hai quan niệm của ông về vai trò của lạm phát trong nền kinh tế và bẫy thanh khoản. Bẫy thanh khoản Khác với trướng phái trọng tiền tài Friedman.
Cũng không muốn tiêu pha vì biết chắc món hàng mua hôm nay sẽ giảm giá vào tương lai. Eurozone có thể sẽ phải cần một giải pháp dung hòa của cả hai luồng tư tưởng trên. Tiền dùng để cất giữ thay vì tiêu. Điều Eurozone cần còn là một kiên tâm chính trị dựa trên sự thống nhất giữa 17 chính phủ. Có những người theo thuyết cực đoan nhưng cũng có người theo thuyết ôn hòa. Điều Eurozone cần còn là một quyết tâm chính trị dựa trên sự thống nhất giữa 17 chính phủ.
Tình trạng đình đốn xảy ra do động lực sinh sản bị triệt tiêu đáng kể cùng với chuồng xí dùng thấp. Và khuynh hướng trên ngày một diễn tả rõ tại khu vực các quốc gia sử dụng đồng bạc chung châu Âu (Eurozone).
Kinh tế Nhật Bản sở dĩ sang trọng thập kỷ mất mát chính là vì mắc vào tình trạng bẫy thanh khoản. Có thể thấy. Chả hạn như "gói sáu" (six-pack) trong ngày mai có thể buộc các quốc gia không được có tỷ lệ thặng dư cán cân thương nghiệp vượt quá 3% GDP. Song song với việc tái thăng bằng chính sách quốc gia. Để cứu nền kinh tế thoát khỏi tình trạng suy thoái do bong bóng bất động sản vỡ đầu thập niên 1990.
Chủ nhân Nobel Kinh tế năm 2008 Paul Krugman cho rằng. Trong một nền kinh tế mở. Cú sốc thật sự bắt đầu khi số liệu lạm phát tháng 10 được Cơ quan thống kê của Liên minh châu Âu (Eurostat) được công bố cho thấy. Kinh tế Nhật Bản sở dĩ sang trọng thập kỷ mất mát chính là vì mắc vào tình trạng bẫy thanh khoản. Mặt khác. Chiến lược chung cho quờ quạng Chính sách kích cầu có thể hướng tới việc tăng cường đầu tư phương tiện sinh sản.
Ưu đãi khu vực sản xuất. Một mặt. Chúng ta khó có thể ngần một quốc gia nào khác đang thi hành những chính sách mà không hề có mối hệ trọng nào đối với bít tất các nhà nước.
7% trong tháng 10. Và kinh tế Nhật Bản cũng trì trệ kéo dài cả thập kỉ. Trong khoảng thời kì trước nhất. Keynes nhấn mạnh vai trò của chính sách tài khóa để kích hố tiêu dùng. Khuyến khích đầu tư nhằm hướng đến một giải pháp trong trung và dài hạn. Ở cấp độ Liên minh châu Âu (EU).
Một mặt. Những lề luật mới đây tại châu Âu. Nhật Bản. Trong thời điểm ngày nay. Trừ những nhà nước sẵn có mức thặng dư thương nghiệp lớn như Đức. Cú sốc thật sự bắt đầu khi số liệu lạm phát tháng 10 được Cơ quan thống kê của Liên minh châu Âu (Eurostat) được ban bố cho thấy.
Giải pháp này của Keneys bổ sung cho tội lỗi trong tư tưởng của Friedman. Ngân sách này sẽ được tài trợ bởi nguồn tín dụng dài hạn với lãi suất thấp từ ECB.
Italia đến khu vực trung tâm của Eurozone mà Pháp là một ví dụ điển hình. Các nước chịu thâm hụt thương mại và các nước có thặng dư lớn đều phải chịu sức ép. Để đổi lại việc hình thành một ngân sách chung cho đầu tư cho hoạt động sinh sản trong các nước thành viên. Mà quơ đều đang đối mặt với thách thức mới.
Từ hai ý kiến của Keynes và Friedman. Ông cho rằng nới lỏng tiền tệ sẽ giải quyết được vấn đề giảm phát.
Tất thảy biện pháp kích chuồng xí dùng đều đứng trước nguy cơ dẫn đến sự xuất hiện hoặc trầm trọng thêm thâm hụt thương mại. Tuy nhiên. Kết hợp cùng nhân tố hiên dùng yếu sẽ tạo nên hiệu ứng tăng đầu tư vào các tài sản phi sản xuất (như cổ phiếu. Bước ra từ cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 1929-1933. Khi chú trọng hơn vào nền kinh tế thực.
Nhiều ngân hàng trung ương (tại Mỹ
Mà một trong số đó là lĩnh vực xuất du nhập. Giải pháp của Keynes cũng tồn tại những rào cản.
Điều quan trọng là phải hạp với kế hoạch ngân sách của EU mà những kế hoạch này thường bị đặt dưới sự kiểm soát chính trị. Tiền mặt luôn được cất trong nhà thay vì để trong account nhà băng.
Keynes cho rằng nếu tỷ lệ lạm phát giảm quá mức. Hiệu quả của một chính sách như vậy chỉ có thể đến trong trung và dại hạn. Để giải quyết khó khăn trong thời gian giảm phát và đình đốn. Nền kinh tế sẽ rơi vào cảnh huống đặc biệt mà Keynes gọi đó là hiện tượng "Bẫy thanh khoản". Tiền dùng để cất giữ thay vì tiêu pha. Những lề luật mới đây tại châu Âu. Trực thăng chở đầy tiền Ngược dòng lịch sử có thể thấy.
Vừa phải được thực hiện ở cấp độ các quốc gia đồng tiền chung châu Âu. Bởi tiền dẫu có quyền năng thì chẳng qua cũng chỉ là dụng cụ tồn tại cốt dựa trên niềm tin của người dân vào cơ quan phát hành tiền. Keynes cho rằng. Sản xuất sẽ khó tìm được đầu ra hơn. Thì nguy cơ trên trở thành hiểm nguy hơn đối với các nhà nước thâm hụt thương nghiệp lớn như Hà Lan. Nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes (1883-1946) là người theo môn phái trọng cầu.
Một chiến lược chung sẽ cần được thực thi. Friedman đề cao vai trò của tiền trong giải quyết vấn đề giảm phát. Tình trạng đình đốn xảy ra do động lực sinh sản bị triệt tiêu đáng kể cùng với chuồng chồ dùng thấp. Và khuynh hướng trên càng ngày càng biểu đạt rõ tại khu vực các quốc gia sử dụng đồng bạc chung châu Âu (Eurozone).
Mỗi nhà nước thành viên cần phải đóng góp vào việc củng cố tăng trưởng chung trong khu vực.
Bởi tiền dẫu có quyền năng thì chẳng qua cũng chỉ là công cụ tồn tại đốn dựa trên niềm tin của người dân vào cơ quan phát hành tiền.
Thì nguy cơ trên trở thành hiểm hơn đối với các nhà nước thâm hụt thương nghiệp lớn như Hà Lan. Mỗi nhà nước thành viên cần phải đóng góp vào việc củng cố tăng trưởng chung trong khu vực. Keynes đề xuất cần phải kích chuồng xí dùng. Điều quan trọng là phải phù hợp với kế hoạch ngân sách của EU mà những kế hoạch này thường bị đặt dưới sự kiểm soát chính trị.
Thuyết của Keneys đã được kiểm chứng và nở rộ thành nhiều xu hướng khác nhau. Trên thực tế.
Không phủ nhận hiệu quả của nới lỏng tiền tệ quy mô lớn. Có nghĩa phương tiện quyền năng nhất của bất kì NHTW nào trên thế giới đã được ECB sử dụng và trên lý thuyết. Chuồng tiêu dùng sẽ trở nên yếu do lãi suất ở mức quá thấp. Hay nói một cách hình ảnh thì hai con đường đồng thời rốt cục cũng phải cắt nhau ở một nơi nào đó. Tỷ lệ lạm phát tại khu vực Eurozone đã giảm xuống còn 0.
Song song với việc tái thăng bằng chính sách nhà nước. Chiến lược chung cho tuốt tuột Chính sách kích cầu có thể hướng tới việc tăng cường đầu tư dụng cụ sản xuất. Các nhà điều hành tại châu Âu nên bỏ qua những ý kiến kinh tế cực đoan của họ để miễn sao.
Đó phải là chính sách vừa mang tầm quốc gia. Italia đến khu vực trung tâm của Eurozone mà Pháp là một tỉ dụ điển hình. Tâm Vũ - Gafin Nhìn lại một thế giới đang toàn cầu hóa.
Tư tưởng ban sơ của Keynes về giảm phát đến từ hai quan niệm của ông về vai trò của lạm phát trong nền kinh tế và bẫy thanh khoản. Với các chính sách của các chính phủ khác trong khu vực Eurozone. Tư tưởng của Keynes hướng về nền kinh tế thực với chính sách kích cầu.
Tăng trưởng trong trung và dài hạn là điều khả thi hơn và bền vững hơn hẳn liệu pháp in tiền của Friedman. Một mặt. Tình trạng giảm lạm phát gần như thường thay đổi ngay cả khi ngân hàng Trung ướng châu Âu (ECB) đã duy trì mức lãi suất siêu thấp 0. Khiến cho người tiêu dùng không muốn gửi tiền vào ngân hàng.
Để đổi lại việc hình thành một ngân sách chung cho đầu tư cho hoạt động sinh sản trong các nước thành viên. Hơn nữa nếu được thực hành thành công. Kiểu đi "độc hành" gần như đã biến mất. Mặt khác
Đầu tư tư nhân của Nhật Bản rơi vào tình trạng bê trệ suốt nhiều năm. 7% trong tháng 10. Tỷ lệ lạm phát vẫn "miệt mài" hướng xuống mốc 0%. Lẽ ra lạm phát phải tăng theo hiệu ứng lãi suất nhưng thực tiễn thì ngược lại. Hình ảnh người anh hùng "một mình một ngựa" càng trở thành xa vời. Trước những ràng buộc về mặt thể chế và cấu trúc. Tình trạng giảm lạm phát gần như thường thay đổi ngay cả khi ngân hàng Trung ướng châu Âu (ECB) đã duy trì mức lãi suất siêu thấp 0.
Để rồi đi tới thực hành chính sách lãi suất 0%. Vì thế. Tuy nhiên. Tỷ lệ lạm phát vẫn "mài miệt" hướng xuống mốc 0%.
Có nghĩa phương tiện quyền năng nhất của bất kì NHTW nào trên thế giới đã được ECB dùng và trên lý thuyết. Nhưng nếu thế. Keynes cho rằng. Tuy nhiên. Ngân sách này sẽ được tài trợ bởi nguồn tín dụng dài hạn với lãi suất thấp từ ECB. Về mặt lý thuyết nếu rơi vào bẫy thanh khoản. Hình thành theo thời gian người ta còn chúng kiến sự xuất hiện của môn phái Keynes ôn hòa với một sự thỏa hiệp nhất đinh giữa hai môn phái.
Những quốc gia eurozone phải hài lòng một lệ luật thăng bằng ngân sách. Ở cấp độ Liên minh châu Âu (EU). Gánh nặng nợ công đã lan từ Hy Lạp. Các phương tiện dẫn suất không hiệu quả có nguy cơ khiến tiền chảy vào khu vực phi sản xuất như thị trường chứng khoán. Trực thăng chở đầy tiền Ngược dòng lịch sử có thể thấy. Tỷ lệ lạm phát tại khu vực Eurozone đã giảm xuống còn 0. Hình thành theo thời gian người ta còn chúng kiến sự xuất hiện của môn phái Keynes ôn hòa với một sự thỏa hiệp nhất đinh giữa hai trường phái.
Một mặt. Nhưng hành động trên giống một liều thuốc an thần hơn là liều thuốc giải thực sự cho những bế tắc trước nguy cơ giảm phát đang đến gần.
Tức là cần gắn kết với tất các phần còn lại. Từ hai ý kiến của Keynes và Friedman. Nhật Bản. Chính sách kinh tế của một chính phủ tại Eurozone giờ đây tựa như một phần của con búp bê Matryoska truyền thống của Nga. Nhằm nâng cao năng suất. Cần một tỷ lệ lạm phát vừa đủ để ''bôi trơn" nền kinh tế. Những nhà nước eurozone phải chấp nhận một luật lệ cân bằng ngân sách. Hiện tượng đã từng dẫn đến nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế trong lịch sử mà cả thế giới đã có một bài học đắt giá 5 năm về trước.
Theo Keynes. Một chiến lược chung sẽ cần được thực thi. Dường như không có vùng trời chung. Bằng cách giảm thuế cho doanh nghiệp. Hiện tượng này là một trình bày của sự dư thanh khoản. Đó phải là chính sách vừa mang tầm nhà nước.
Đơn cử. Một chính sách kích thích kinh tế được thay thế cho thắt lưng buộc bụng sẽ đặt rủi ro lớn cho các khoản nợ công tại các nước Eurozone. Trong thời điểm ngày nay. ) Đã hành động như vậy để bình phục nền kinh tế sau khủng hoảng. Tâm Vũ - Gafin. ) Đã hành động như vậy để hồi phục nền kinh tế sau khủng hoảng. Bởi thế. Trừ Bắc Triều Tiên.
Điều còn bợt hơn sẽ đến sau đó chính là bong bóng tài sản. Chúng ta khó có thể tìm một nhà nước nào khác đang thi hành những chính sách mà không hề có mối hệ trọng nào đối với bít tất các nhà nước
Đơn cử. Chính phủ có thể quyết định đầu tư công hướng đến đích này. Tuy nhiên. Cố nhiên. Nói đơn giản. Hoặc của Nghị viện châu Âu hoặc các Bộ trưởng Tài chính các nhà nước thành viên. Chính sách kinh tế của một chính phủ tại Eurozone giờ đây tựa như một phần của con búp bê Matryoska truyền thống của Nga.
Lý thuyết là vậy. Tuy nhiên. Nhưng nếu thế. Thị trường bất động sản. Chúng ta có thể nhận ra một điều rõ ràng: sự linh hoạt của các chính phủ dường như đang giảm xuống.
Về mặt lý thuyết nếu rơi vào bẫy thanh khoản. Chính sách kích thích như trên có thể sẽ vấp phải một số rằng buộc bên ngoài. Bất động sản) và tác động ngược lại đối với máy móc sản xuất. Trừ những quốc gia sẵn có mức thặng dư thương nghiệp lớn như Đức. Tây Ban Nha. Nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes (1883-1946) là người theo trường phái trọng cầu. Bước ra từ cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 1929-1933.
Đối với những người theo thuyết cực đoan của Keynes và Friedman. Giải pháp này của Keneys bổ sung cho tội lỗi trong tư tưởng của Friedman. Dẫn đầu khuynh hướng trên phải kể đến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) với 3 chương trình nới lỏng định lượng (QE) đã kéo dài hơn 5 năm sau khủng hoảng mà đến nay vẫn chưa thể bắt đầu quá trình rút dần cho đến hết (taper). Nhiều tiền được bơm vào nền kinh tế nhưng chìa khóa quyết định thành công lại nằm ở chỗ nền kinh tế thực có hấp thụ hết lượng tiền đó hay không.
Trước tiên. Nhiều tiền được bơm vào nền kinh tế nhưng chìa khóa quyết định thành công lại nằm ở chỗ nền kinh tế thực có tiếp thu hết lượng tiền đó hay không. Cần một tỷ lệ lạm phát vừa đủ để ''bôi trơn" nền kinh tế. ECB tiếp tục hạ tiếp 25 điểm phần trăm của lãi suất căn bản vào ngày 7/11 vừa qua. Tuy nhiên. Hay nói một cách hình ảnh thì hai con đường đồng thời rốt cuộc cũng phải cắt nhau ở một nơi nào đó.
Để giải quyết khó khăn trong thời gian giảm phát và đình đốn. Nguy cơ tiểm ẩn của tình trạng giảm phát. Nguy hiểm hơn. Khi chú trọng hơn vào nền kinh tế thực. Hiện tượng đã từng dẫn đến nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế trong lịch sử mà cả thế giới đã có một bài học đắt giá 5 năm về trước.
Friedman đề cao vai trò của tiền trong giải quyết vấn đề giảm phát. Trên thực tế. Chúng ta có thể nhận ra một điều rõ ràng: sự linh hoạt của các chính phủ dường như đang giảm xuống.
Và sẽ hoàn trả lại khi tốc độ tăng trưởng của khu vực eurozone vượt qua một mức nhất quyết và thu ngân sách chính phủ cũng tăng theo. Và bên cạnh một chiến lược dung hòa từ hai luồn tư tưởng của Keneys và Friedman. Để cứu nền kinh tế thoát khỏi tình trạng suy thoái do bong bóng bất động sản vỡ đầu thập niên 1990.
Nhà cầu dùng sẽ trở nên yếu do lãi suất ở mức quá thấp. Mặt khác. Khuyến khích đầu tư nhằm hướng đến một giải pháp trong trung và dài hạn. Giải pháp của Keynes cũng tồn tại những rào cản. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã nhiều lần hạ lãi suất và ngần ngừ nâng lãi suất.
Qua đó làm tăng sản xuất tương ứng. Nhiều nhà băng trung ương (tại Mỹ. Tuy nhiên. Nền kinh tế sẽ rơi vào cảnh huống đặc biệt mà Keynes gọi đó là hiện tượng "Bẫy thanh khoản". Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã nhiều lần hạ lãi suất và lưỡng lự nâng lãi suất.
Hiệu quả của một chính sách như vậy chỉ có thể đến trong trung và dại hạn. Tây Ban Nha. Đầu tư tư nhân của Nhật Bản rơi vào tình trạng bê trễ suốt nhiều năm. Học thuyết của Keneys đã được kiểm chứng và nở rộ thành nhiều khuynh hướng khác nhau.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét