Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

Sử khác biệt dụng thuốc trong điều trị hen phế quản.

Và loại tác dụng dài - LABA (Long Acting Beta 2 Agonist) dùng để kiểm soát hen

Sử dụng thuốc trong điều trị hen phế quản

Điều trị hen phế quản cho trẻ con. Thuốc kháng leukotrien   Là thuốc có tác dụng chống viêm do ức chế men 5 – lipooxynase không cho men này hoạt động xúc tác để tạo ra leukotrien từ acid arachidonic hoặc ức chế tổng hợp leukotrien D4 & E4, do đó thuốc có tác dụng ngăn ngừa cơn hen do gắng sức hay phối hợp với các thuốc phòng hen khác.

Thuốc dạng tiêm chỉ dùng khi có cơn hen nặng, nhưng dùng đường này dễ có tai biến nhịp nhanh kịch phát hoặc rung thất. Loại tác dụng chậm chỉ cần dùng 2 lần/ngày. Thuốc methylxantlin (theophyllin, amiophyllin)   Có tác dụng giãn phế quản và có khả năng chống viêm. Nếu dùng kéo dài sẽ có tác dụng chống viêm do đó được dùng trong liệu pháp điều trị phối hợp để đề phòng hen lâu dài, kể cả cơn hen về đêm.

Dùng đường uống hoặc tiêm kéo dài có nhiều tác dụng phụ toàn thân như prednisolon - methylprednisolon hay depersolon. Bây giờ có rất nhiều loại thuốc được sử dụng để điều trị HPQ, tuy nhiên thường sử dụng các loại sau:   Thuốc kích thích tuyển lựa beta 2 adrenergic   Thuốc có tác dụng làm giãn cơ trơn phế quản, xúc tiến quá trình làm sạch các chất nhầy trong phế quản, giảm tính thấm thành mạch, ức chế giải phóng histamin và các chất trung gian hóa học khác.

Tự bản thân thuốc này không có tác dụng giãn phế quản. Loại tác dụng ngắn và nhanh ngoài làm giãn phế quản nó còn có thể làm tăng cường kích thích hô hấp hoặc chức năng cơ trơn của phế quản.

Chỉ khi bị nặng mới dùng đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch. Thuốc dùng ngừa cơn tái phát về sau. Thuốc dạng uống có loại tác dụng ngắn bắt đầu có hiệu quả trong 30 phút, tối đa sau 2 - 3 giờ, kéo dài đến 6 - 8 giờ.

Thuốc kháng cholinergic (ipratropim)   Tác dụng chống sự co thắt cơ trơn phế quản. Hiệu quả của việc kết hợp này tương đương với việc tăng gấp đôi liều corticoid đơn thuần. Cromones   ngăn trở giải phóng các chất trung gian hóa học gây co thắt phế quản, không có tác dụng cắt cơn hen cấp.

Đó là thuốc montelukast (singulair), zilentron (zyflo). Chủ yếu tác dụng tại phổi không có tác dụng toàn thân vì thường dùng đường hít hay khí dung như atrovent. Tuy nhiên, dùng khí dung hoặc phun mù kéo dài có thể gây nhiễm nấm Candida ở miệng, họng như thuốc becotide - pulmicort hay flixotide. Corticosteroid   Thuốc có tác dụng chống viêm, làm giảm tính mẫn cảm của phế quản.

BS. Loại tác dụng dài có cội nguồn từ SABA được bào chế thành dạng viên giải phóng chậm như volmax hay serevent, tác dụng kéo dài 12 giờ nên chỉ cần dùng 2 lần/ngày.

Ưu tiên dùng đường khí dung hoặc phun mù. Nói chung, các thuốc kích thích tuyển lựa beta 2 adrenergic ít độc, độ an toàn cao, ít ảnh hưởng đến tim mạch nên được dùng khá rộng rãi. Còn dạng tiền chất của SABA, như bambec uống vào thân thể mới chuyển hóa thành terbutalin, thuốc này tác dụng kéo dài 24 giờ nên chỉ cần uống 1 lần/ngày.

Thuốc rất đắt nên ở Việt Nam chưa tiếp cận được. Thuốc có nhiều dạng dùng như dạng khí dung thường có thuốc salbutamol (ventolin) hay terbutalin (bricanyl) tác dụng nhanh trong 1 - 5 phút và kéo dài 4 - 6 giờ.

Có thể được chỉ định dùng điều trị các triệu chứng hen cấp trong sốc phản vệ. Tác dụng của loại thuốc phối hợp này là giảm được các triệu chứng kinh niên ở đường hô hấp, tăng chức năng phổi, giảm cơn hen cấp và tăng chất lượng cuộc sống của người HPQ. Hiện, các thuốc tác dụng dài được phối hợp với glucocorticosteroid dạng hít để điều trị kiểm soát hen.

Thuốc kháng IGE (omalizumab)   Là kháng thể đơn dòng có tác dụng ức chế việc phóng thích ra các chất hóa học trung gian gây viêm như leukotrien, interlekin, histamin do đó không gây ra các miêu tả dị ứng hay hen trên lâm sàng. Ketotifen (zaditen)   Tác dụng ức chế chất trung gian hóa học gây viêm, có tác dụng chống dị ứng nhưng không có tác dụng giãn phế quản do đó không dùng cắt cơn hen cấp.

Các thuốc kết hợp trong dự phòng HPQ   kết hợp LABA với ICS (corticoid được dùng trong điều trị hen phế quản) như seretid (salmeterol + fluticason) hoặc symbicort (formoterol + budesonide).

Thuốc thường dùng cho hen nặng và dai dẳng. Thuốc có độ an toàn hẹp, nhiều tác dụng phụ nên không dùng rộng rãi. Dùng qua bình xịt (babyinhaler). Thuốc có hai loại: loại tác dụng ngắn - SABA (Short Acting Beta 2 Agonist) dùng để cắt cơn hen.

Phạm Thị Thục. Dạng hít xịt hoặc phun mù: với loại tác dụng ngắn, hiệu quả nhanh như thuốc dùng dạng khí dung, với loại tác dụng dài có formoterol hay salmeterol có tác dụng chậm, hiệu quả bắt đầu sau 3 - 10 phút, kéo dài đến 12 giờ. Còn các thuốc kích thích không tuyển lựa beta 2 adrenergic cũng tác dụng như thuốc có lựa chọn nhưng hiệu quả kém hơn và nhiều tác dụng phụ trên hệ tim mạch và thần kinh trung ương nên ít dùng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét